Giai đoạn cách mạng tiên tri

Giai đoạn cách mạng tiên tri

Tuy nhiên, công việc thật sự quan trọng trong cải cách tôn giáo là công việc của các nhà tiên tri nổi tiếng – Amos, Hosea, Isaiah[1], và Micah. Và thành tựu của họ tượng trưng cho giai đoạn thứ ba trong sự phát triển tín ngưỡng Do Thái, giai đoạn cách mạng tiên tri, khoảng thế kỷ 8 và 7 TCN. Các nhà tiên tri nổi tiếng là những người có tầm nhìn rộng hơn Elijah hay lănh dạo của các giáo phái khắc khể. Quan điểm của họ rết tiến bộ, họ khòng yêu cầu trở về một sô’ thời kỳ đơn sơ, qui định trong quá khứ mà chỉ truyền bá rằng tín ngường nên được kết hợp với triết học mới và quan niệm mới về mục đích phụng sự. Ba giáo điều cơ bản cấu thành bản chất trong lời dạy của họ: 1) Thuyết một thần-Yahweh là chúa của vũ trụ, thần thánh của các dân tộc khác không tồn tại; 2) Yahweh là chúa duy nhất công ‘chính, Người thật ra không phải có quyền năng vô hạn, quyền năng của Người có hạn bằng công lý và điều thiện, diều ác trên thế gian là do con người chứa không phải do Chúa; 3) mục đích của tốn giáo chủ yếu là mục đích đạo đức, Yahweh không quan tâm đến nghi lễ và vật hiến tế, nhưng con người nên “tìm kiếm công lý, giải phóng người bị áp bức, chăm sóc kẻ không cha, bênh vực góa phụ”. Hay theo lời dáp của Micah: “Hỡi Người, bạn dã được nói cho hay điểu nào ỉả tốt, điểu nào ĐÚC CHÚA đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn?”. [2] So sánh với tin ngưỡng làu đời hơn, hhía cạnh chính trị và xă hội. Trong những giáo điều này hàm chứa thái độ phản đối dứt khoát gần như tất cả mọi thứ mà tín ngưỡng lâu đời dã bênh vực. Tuy nhiên, như thế rõ ràng không phải là đúng theo dự định của các nhà tiên tri. Họ đúng ra nhận thức được nhiệm vụ cửa mình là phải dưa tín ngưởng trđ về tính chất cổ đại thuần túy. Tính thô thiển trong tín ngưởng được họ xem là những đái bại của nước ngoài. Nhưng giống như nhiều lãnh đạo như thế, họ làm được tốt hơn điều họ biết. Thành tựu thật sự của họ đá vượt xa mục tiêu ban đầu đến mức có thể dược gọi là cuộc cách mạng tín ngưỡng. Trong chừng mực nào đó, cuộc cách mạng này cũng có khía cạnh chính trị và xã hội. Của cải tập trung vào tay thiều số. Hàng ngàn nông dán nhỏ mất đi sự tự do eiía mình và phải phục tùng các chủ đất giàu có. Nếu chúng ta tin vào lời xác nhận của Amos, nạn tham nhũng hoành hành trong các tòa án luật pháp đến mức nguyên đơn trong vụ kiện đòi nợ chỉ cần hôi lộ cho quan tòa một dôi giày là người bị kiện bị xử thành nô lệ . Bao trùm lên tất cả là mối đe dọa thống trị của người Assyria. Để cho quốc gia có thể đương đầu với mối đe dọa ây, các nhà tiên tri nghĩ rằng hành động bất lương trong xã Kội phải bị xóa bỏ và người ta đoàn kết trong một tín ngưỡng không có tính chất đồi bại của nước ngoài.
0
Lý do giải thích sự phát triển đa dạng trong tín ngưởng Do Thái.

Lý do giải thích sự phát triển đa dạng trong tín ngưởng Do Thái.

Số phận của Israel và Judah. Sau khi ly khai, 10 bộ tộc phía bắc được gọi là Vương quốc Israel2, trong khi hai bộ tộc phía nam sau này được gọi là Vương quốc Judah. Trong hơn 2 thế kỷ, hai nhà nước bé nhở này vẫn còn sông cách biệt. Nhưng vào năm 722 TCN Vương quốc Israel bị người Assyria xâm chiếm, cư dân bị phân tán trên khắp đế chế mênh mông của nước xâm chiếm, và sau cùng bị dân số đông đảo xung quanh mình đồng hóa. Từ đó về sau người ta thường gọi họ là 10 Bộ tộc Israel bị thất lạc. Vương quốc Judah phải cô gắng xoay xở để tồn tại trong hơn 100 năm, thành công bất chấp mối đe dọa của người Assyria. Nhưng vào năm 586 tr. CN, như chúng ta đã biết vương quốc này bị người Chaldean dưới sự lãnh đạo của Nebuchadnezzar, thôn tính. Jerusalem bị cướp phá, thiêu hủy, số công dân hàng đầu bị đưa về Babylon câu thúc. Khi Cyrus người Ba Tư chinh phục người Chaldean, ông thả người Do Thái ra và cho họ trở về cố’ quốc. Một vài người sẵn sàng về, và sau đó một thời gian khá lâu họ mới xây dựng lại đền thờ. Từ 539 dên 332 TCN, Palestine là một nhà nước chư hầu của Ba Tư. Năm 332 TCN, Palestine bị Alexander xâm chiếm, sau khi ông chết Palestine dưới quyền cai trị của Ptolemies Ai Cạp. Năm 63 TCN, Palestine trở thành một nước dưới sự bảo hộ của người La Mã. Lịch sử chính trị của Palestine như một khôi thịnh vượng chung Do Thái kết thúc vào năm 70, khi cuộc nổi dậy vô vọng bị người La Mã trừng phạt bằng cách tiêu diệt thành Jerusalem, sáp nhập đất nước này thành một tỉnh của La Mã. Cư dân dần dần phân tán ở khắp nơi trong Đê chế. Cộng dồng người Do Thái. Sự hủy diệt thành Jerusalem và người La Mă sáp nhập đất nước này là các yếu tố chính trong cái gọi là Cộng đồng người Do Thái (Diaspora), hay sự phân tán người Do Thái ra khỏi Palestine. Thậm chí ngay từ đầu đã có nhiều người trong số họ phải đến nhiều nơi khác nhau trong thế giới Hy-La tị nạn do ở quê nhà sống quá khó khăn. Trong môi trường mới, họ nhanh chóng chịu ảnh hưởng của nước ngoài, một thực tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự hòa hợp các quan niệm Hy Lạp và phương Đồng. Một người Do Thái Hy Lạp hóa, Thánh Paul, là người tái định hình Cơ Đốc giáo theo các giáo điều triết học Hy Lạp. Sự Phát Triển Tôn Giáo Do Thái Lý do giải thích sự phát triển đa dạng trong tín ngưởng Do Thái. Một vài dân tộc trong lịch sử đã trải qua sự phát triển tín ngưỡng có thể so sánh với sự phát triển tín ngưỡng của người Do Thái. Các chu kỳ phát triển tín ngưỡng trải rộng từ mê tín ở dạng sơ khai nhất cho đến các khái niệm cao thượng về tinh thần và đạo đức. Một phần lời giải thích được tìm thấy trong vị trí địa lý đặc biệt của người Do Thái. Sau khi họ xâm chiếm Canaan nằm trên huyết lộ giữa Ai Cập và các nền văn minh quan trọng của châu Á, nên họ chịu nhiều ảnh hưởng vồ cùng da dạng. Giai đoạn tiền Moses. ít nhát có thể phân biệt được 5 giai đoạn khác nhau trong sự phát triển tín ngưỡng Do Thái. Thứ nhâ’t, chúng ta có thể gọi là giai đoạn tiền Moses, ngay từ thời gian khởi đầu của dân tộc khoảng 1100 năm TCN. Trước hết, giai đoạn này mang đặc điểm thuyết vật linh, thờ phụng linh hồn cư trú trong rừng, trên núi, giếng và suối thiêng, thậm chí các hòn đá có hình dạng dặc biệt. Vào thời diểm này có rất nhiều hình thức ma thuật đa dạng – thuật gọi hồn, ma thuật bắt chước, hiến tê người, v.v… Rất nhiều tàn tích cửa những niềm tin và thông lệ ban đầu này được ghi lại trong Kinh Cựu ước, chẳng hạn trong Đệ Nhị Luật 33: 16 ám chỉ “ngự giữa bụi gai”. Cũng như trong Sách các Vua quyển 2 6: 5-7, trong đó cảu chuyện kể về cách Elisha làm chiếc bè đầu rìu bằng cách ném một mảnh gỗ xuống nước. Theo nguyên tắc ma thuật bắt chước, sự nổi của miếng gỗ trên mặt nước sẽ dưa đầu rìu nổi lên bề mặt. Thẩn thánh dạng hình người. Dần dần thuyết vật linh nhường chỗ cho thần thánh dạng hình người. Dường như một vài thần thánh mới vẫn chưa có tên, tất cả thần thánh thường được gọi bằng tên chung “EI”, nghĩa là, “Chúa”. Họ là thần thánh bảo vệ những nơi đặc biệt và cũng có thể bảo vệ các bộ tộc riêng lẻ. Vào thời điểm này chưa có sự thờ phụng Yahweh trên phạm vi cả nước. Giai đoạn thờ một thần trên cả nước. Giai đoạn thứ hai, kéo dài từ thê kỷ 12 đến thế kỷ 9 TCN, thường được gọi là giai đoạn thờ một thần trên cả nước. Từ này có thể định nghĩa như sự thờ phụng duy nhất một thần nhưng không phủ nhận sự tồn tại của các thần thánh khác. Chủ yếu là do ảnh hưởng của Moses, người Do Thái dần dần chấp nhận vị thần của dân tộc mình trong giai đoạn này một vị thần có tên dường như được viết là “Jhwh” hoặc “Yhwh”. Không ai biết phát âm như thế nào, nhưng giới học giả thường cho rằng có ỉẽ được thốt ra giống như phát àm “Yahweh”. Ý nghĩa cũng khó hiểu. Khi Moses thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Israel và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nêu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thi con sẽ nói với họ làm sao?” Thiên Chúa phán với ông Moses: “Ta là Đấng Hiện Hữu, ngươi nói với con cái Israel thế này: ‘Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em’”[1]. Không phải vào thời điểm này hay bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử cổ đại người Do Thái gọi chúa của mình là “Jehovah”, là do sai lầm của người Do Thái theo đạo Cơ Đốc trong thê kỷ 13 mà ra
0
Suy ngẫm về triết 11 trong “Bến quê”

Suy ngẫm về triết 11 trong “Bến quê”

ĐỀ BÀI Suy ngẫm về triết lí trong truyện ngắn Ben quê cùa Nguyễn Mùĩh Châu (Ngữ văn 9, tập hai). BÀI LÀM Nguyễn Minh Châu – nhà vãn có ngòi bút luôn huớng vào đời sóng Ihế sự nhân sinh thường ngày với những chi tiết sinh hoạt đời thuờng, có khi nhỏ nhặt để phát hiện những chiều sâu của đời sống vói bao nhiêu quy luật và nghịch lí. Bén quê – một truyện ngắn của nguyễn Minh Châu,   như một sự nhận thúc, sự thấu hiểu về cái đièu mà tác già ẹọi là cuộc đời vón da sự, con người thì da đoan. Nhàn vật Nhĩ (rong truyện dã chiêm nghiệm đưực cái quy luật đầy ve nghịch lí cùa đời nguời:          Cợn người ta trên đường đời thật khó tránh dược, n/uĩng cái điều vòng vèo hay chùng chình”. Đó là một triết lí giản dị mà sâu sắc, mang tính trải nghiệm, có ý Iighĩa tổng kct cuộc đòi một con người. Truyện Bên quê đirợc trần thuật theo cái nhìn và tâm trạng của nhận vật Nhĩ trong một cảnh ngộ hết sức đặc biệt, trớ trôu như một nghịch lí. Nhĩ làm một công việc đã cho anh có điều kiện đi đến hầu khắp mọi nơi trên thế giới “suốt dời Nhĩ tùng di tới không sót một xó xĩnh nào trên Trái Đất”. Ây thế mà đến cuối đời, căn bệnh quái ác lại buộc chặt anh vào giường hệnh và hành hạ như thé hàng năm trời. Vào cái buổi sáng hôm ấy, khi Nhĩ muốn nhích người đén bên cửa sổ, thì việc ấy đói với anh khó khăn như phải đi hết cả một vòng Trái Đất và phải nhờ vào sự giúp đã của đám ITC con hàng xóm. Cũng vào lúc đó Nhĩ phát hiện ra vè đẹp lạ lùng của bãi bồi bẽn kia sông, ngay trirức cửa sổ nhà anh. Nhung anh cõng biết rằng anh sẽ không bao giờ có thể đặt chân lên mảnh đấl ấy dò nó ở rắt gần anh. Cũng trong những ngày cuối đời, Nhĩ mới thực sự thấu hiểu, biết ơn sâu sắc đối với người vạ tần tảo, giàu tình yêu và đức hi sinh. Ngay lúc này, Nhĩ mang sự ân hận và xót xa cùa một người nhìn vào hiện tại và quá khứ của mình ừ cái thời điểm bict mình sắp phải từ già cõi đời. Đó là một nghịch lí của cuộc sống. Chính vào buổi sáng hôin ấy, khi nhận ra (ấl cả những cảnh vật rất đỗi hình dị và gàn gũi qua õ cửa sổ căn phòng, đồng thài cũng hiểu rằng mình sắp phải già biệt cõi đời, ở Nhĩ bùng lên một niềm khao khát vô vọng là đuực đặt chân một lần lên cái bãi bồi bên kia sông. Đièu ưác muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bcn vững, bình thưừng và sâu xa của cuộc sống – những giá trị thuồng bị người ta bỏ qua, làng quên, Iiỉiấl là lúc còn trẻ, khi những ham muón xa vòi đang lôi cuốn con người tìm đến. Sự nhận thức này chỉ đến được với nguời ta ở cái độ đã từng trải, với Nhĩ thì đó là lúc cuối đòi, khi phải năm liộl trên giưrrng bệnh: “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trđi, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mói nhìn thấy hét sự giàu cố lẫn mọi vê đẹp của một cái bãi bồi sông HồrtỊỊ ngay bờ bên kia Không thế nào làm đuực cái điều mình khao khát, Nhĩ đả nhờ đứa con thay mình sang bên kia sông, đặt chân Icn cái bãi phù sa màu mỡ. Nhung ả đây anh lại gặp một nghịch lí nữa: đứa con không hiểu được uớc muốn của người cha nên làm một cách miễn cưỡng và rồi ỉại bị cuốn hút vào trò chai hấp dẫn mầ nó gặp trên đuừng đi, để rồi có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ sự việc ấy, Nhĩ đà chiẽm nghiệm được cái quy luật phổ biến cùa đời người: “… con người ta trân duừnịị đời thật khó tránh được nhũng cái diều vòng vèo hoặc chùng chình ‘\ Anh không trách đứa con trai bởi vì “nó đã thấy có gì dáng hấp dẫn à bên kia sông đâu”. Ờ cuối truyện, khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi vào bà đất bcn này sông, Nhí đà thu hết tàn lực dồn vào một cử chỉ có vẻ kì quặc: “Anh đang cổ thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại đề đu muthù nhô người ra ngoài, giơ mội cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y nhu đang khẩn thiết ra lệnh cho một người nào dó”. Hành động này có thể hiếu như mong muốn thóc tỉnh mọi người về nhũng cái vòng vèo, chùng chình mà chúng la đang sa vào trôn dưừng dời, để dứt ra khỏi nó, đẽ hướng tói những giá trị đích thực, vốn rất giàn dị, gần gũi và bèn vững. Cuộc sống là một chuỗi dài của những nghịch lí, những điều vòng vèo, chùng chình. Triét lí trong truyện Ben quê quả là sâu sắc ggi nhiều suy ngẫm với mỗi ngưừi đọc chúng ta. Khi còn bé, ta ưức mình lớn thật nhanh đế có thể được tự do về giờ giác, có Ihể kiếm tiền nuôi bản thân hay phụ giúp gia đình. Nhimg khi buớc ra đài, ra lại xiết bao nhớ về cái thời thư ấu, la lại muốn được nhỏ lại để sóng vô tư, không lo âu toan lính, để được nô đùa bcn bò bạn, được che chả trong vòng tay ba mẹ. Ở cái tuổi được bảo bọc và có chỗ dựa, chúng ta luôn muốn mình mạnh mỏ hcm để Cự đứng vững. Và rồi vào cái tuổi ta phải mạnh mẽ đê đói diện với đừi, ta mứi Ihấy cuộc sống có thể xô ngã mình bắt cứ lúc nào… Và cái nghịch lí lớ» nhắt đó là chúng ta sổng trong một cuộc sống với rất nhiều nghịch lí nhưng chúng (a vẫn yêu và tha thiết vái cuộc sống này. Ai đó đã nói răng: “Nếu bạn muốn cảm thấy mình giàu có, hãy tính tát cả những điều bạn đang có mà tiền bạc không thể mua được”. Và một irong nhũng điều đó chính là thời gian. Cho dù bạn là người giàu có nhắt trôn thế giói này, tiền có the cho bạn nhiều thứ nhưng tiền không thể giúp hạn mua đuực thòi gian, mua lại được quá khứ. Thế ncn ta hãy sống cho một tưưng lai cốt đẹp, đồng thời không lãng quên quá khứ và biết cách nâng niu hiện tại. 17 tuổi, tôi đang cầm trong tay một hạt giống cùa mình, đang đímg trên một mảnh đất rộng mênh mông và không biết sẽ gieo hạt giống của mình xuống noi nào. Trong cuộc sống, bạn luôn phải đứng truớc nhiều lựa chụn: lựa chọn cho cách sống, lụa chọn cho tương lai của mình. Cuộc sống vốn đĩ là vậy đó, luôn có những ngã rẽ, những chân ười chừ bạn khám phá. Không phái lụa chọn của bạn lúc nào cũng đúng, khõng phâi con đường nào bạn đi cũng trài đầy hoa. Nhung, hạn có thể quyết định đòi mình bằng cách xem mình muốn gì, làm gì và hãy đừng “chùng chình” khi lụa chọn hạt giống gieo xuống đời mình, để rồi nuôi dưỡng và vun đắp nó. Tôi tin răng ánh bình minh vẫn luôn chờ đón hạt giống của bạn nảy mầm. Nguyễn Khánh ỉ.ê THPT chuyên Lê Quý Đôn – Long An
0
Chọn nghề

Chọn nghề

ĐỀ BÀI Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao dã dể nhăn vật Hộ nghĩ rằng: “Sự cẩu thủ trong bất cứ nghề gì cũng là bát lương Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này? Theo anh (chị), mỗi nỊỊirời cần có thái độ như thể nào khi lựa chọn nghề nghiệp và thực hiện công việc? BÀI LÀM Trong truyện ngắn Đời thừa – tác phẩm có ý nghĩa như một trong những tuyên ngôn nghệ thuậl của Nam Cao, nhà văn đă để cho nhân vật Hộ nghĩ rằng: “Sự cẩu thà (rong bắt cứ nghè gì cũng là bất lưorng”. Tuy rằng đó không phải là vấn đề Irung tâm mà Nam Cao đề cập đến trong   tác phẩm, song đặt ra ycu cầu về trách nhiệm càn có của mỗi người trong công việc của mình cQng là một vấn đề vô cùng cần thiết mà ta cần xem xét. Nghề nghiệp – hiểu theo nghĩa dom giản nhất – là công việc mà ta làm để lạo ra những giấi tíị vật chát và tinh thần nhăm phục vụ cho cuộc sổng. Gắn vói mỗi nghè là một yêu cầu, đòi hỏi về trình độ chuyên môn và ý thúc trách nhiệm với công việc, cẩu Ihả trong nghề Iighiệp là thái độ hài hợt, vội vàng, chỉ cốt hoàn thành chứ không quan tâm đcn hiệu quả, chi coi trọng số lượng mà không để tâm đến chát lượng công việc, đó là biểu hiện cụ thể của thói vô trách nhiệm. Nhà văn Nam Cao đã thể hiện một thái độ phô phán gay gát đói với hiện tượng này khi đồng nhát thói quen cẩu thả với bản chất của con nguời xấu xa, vô lương tâm: “Cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là bất lương”. Như vậy, cổ thể tháy đối với Nam Cao, ý thức trách Iihiệm trong nghề nghiệp chính là một thưức đo nhân cách con ngưòri. Tinh thần trách nhiệm trong công việc là yếu tó quan trọng nhất để tạo nên thành công. Cho đù bạn có tài mà không chuyên tâm làm việc thì cũng không thể nào phát huy được hết khả năng vốn có, công việc không thể đạt đirực hiệu quả tói ưu. Công việc ta làm gắn liền vói lọi ích của cố nhân ta. Néu như đến cả cuộc sống của bân thân mà ta cũng không để tâm đcn nữa thì sao có thể trở thành một con người hoàn thiện, chưa nói đến việc lo lắng, chăm sóc cho người khác. Thế nhumg, quan trọng hơn là công việc của mỗi người đều có liên quan trực tiếp đén những ngiròi xung quanh, đến hiệu quả của cả một hệ thống làm việc, một dây chuyền sản xuất. Bởi vậy, bất cẩn trong công việc túc là thiếu trách nhiệm với cả cộng đồng, vói công việc chung của mọi nguời. Một kĩ sư nhầm lẫn trong thiết kế sẽ kéo theo sự sai sót Irong quá trình thi công, công viộc sẽ vì thé mà phải đình đốn. Mỗi người lựa như một mắt xích trong guồng máy chung đang hoạt động. Nê» vô trách nhiệm trong công việc của bản thân mình cung đồng thời sẽ là lãng phí không chỉ những của cải vật chất mà cà công sức của người khác, ảnh hường đến tát cả mọi nguời. Mỗi công việc luôn đòi hỏi ừ con ngurri một lưưng tâm, ý thức. Bỏi có nhũng sai lầm sẽ không bao già có ca hội sữa chữa, làm lại. Bác sĩ, y tá mà sơ suất có thể hại chết nguòi bệnh. Giáo viên vô trách nhiệm có thể làm hỏng cà một thế hệ học trò. Nguửi buôn bán vì liền mà gian dối, lọc lừa sẽ khiến người tiôu dùng thiệt hại. Bởi thế. trách nhiệm của mỗi người trong công việc luôn phải đirợc đặt lên hàng đầu. Có ngũrừi từng ví Ihói vô trách nhiệm lìhư một thứ axit ăn mùn cà xã hội. Một khi con người không để tâm đến những hậu quà mà mình có thể gây ra khi cẩu thả trong công việc, đó cùng là lúc lương câm đã không còn hiện diện, để phán xét, nhắc nhờ, đổ điều chình mỗi hành vi. Thói quen cẩu thả có thể xuất phát từ rất nhièu nguyên nhân. Có thể là do bản tính ích kì, vô tâm, thiếu trách nhiộm cửa con Iigưòri. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp, đó là đo con Iigirài chán nản, bất mân vói công việc mà minh đang đảm nhiệm. Nghề nghiệp, với một số nguời chi là cách thức mưu sinh, cũng có nguxVi coi đó là nghĩa vụ lao động để đóng góp và cống hiến, lại có nguài làm viộc vì niềm húng thú, dam mê. Cách nhìn về «ghề nghiệp khác nhau sẽ khiến con ngírửi có những lliái độ khác nhau với nghè nghiệp cùa mình. Coi nghè là con đường kiếm sống, ta có thể sõ vì món lợi của bản thân mà đi ngược lại với lương lâm nghè nghiệp. Coi nghè là nghĩa vụ, ta có thể sẽ phải làm việc vói tâm lí bị ép buộc, không thoải mái. Chỉ khi coi nghè là niềm vui, ta mái có the hết lòng vì những việc đang làm và hưn thế nữa, có thế sáng tạo tìm ra những COIÌ đuửng, cách thức mới hiệu qua nhất, tối ưú nhất cho công việc. Và chính những niềm vui nho nhò ấy lại là động lực để ta tiếp tục vưon lèn và thành công Irong công viộc của mình. Như vậy cách duy uhất để ta không mắc thói quen cẩu thà trong công việc chính là tìm trong đó niềm hứng thú, đam mê thực sự. Muốn vậy, ta cần cẩn trọng ngay từ lúc lựa chọn nghề nghiệp, đế chụn lựa được công việc phù họp với sờ thích, ý muốn của bàn thân. Tuy nhiên, ta cần phài phán biệt giữa ý thích nhất thòi và niềm đam mê thực sự. Những người chọn nghề nghiệp theo ý muốn nhất thời thường SC chọn những nghề thòi thưụng. để rồi khi nghề ấy trờ (hành lỗi thời, lạc hậu lại hói hận, rồi thay đổi. Thích mà không xem xét đến khả năng, điều kiện theo đuôi nghề nghiệp ấy thì khi đối mặt với nhùiỉg khó khỗn liên tiếp, ta cũng sẽ nhanh chóng chán nản. Hãy giành thời gian đê cân nhắc xem nghè nghiệp nào (hực sự phù hợp vói bân thân. Bải chỉ khi chọn nghè mà mình đam mê, ta mói có thể gắn bó vói nó một cách bền vũng lâu dài, mới có động lực để virựt qua những trử ngụi mà bất cứ nghề nghiệp nào cũng có, và quan trọng nhất là chỉ với nghề mà mình yêu thích, ta mới dc dàng tìm đuực hứng thú vói công việc, để có thể cẩn trụng, chu đáo trong từng chi tiết Lựa chọn nghè nghiệp là một quyct định quan trọng trong cuộc đòi mỗi con nguời. Bữi vậy, đùng bao giừ vội vàng, hấp tấp. càn tránh mợi quan điểm sai lầm trong lựa chọn nghề nghiệp như chọn nghề theo phong trào, chọn nghè (hiếu thực tế, không gắn với nhu cầu xã hội, hay thậm chí là chọn theo may rủi, bói toán… Neu bạn cẩu thã ngay cả irong quyết định này, bạn sẽ phải trả giá băng (ương lai của chính mình và có thể sẽ tiếp tục trả thành một con người cẩu thả trong công việc mà mình không mong đợi. Và bừi “tập quán xấu ban đầu chỉ là người khách qua đường” – sự cẩu thà luôn bắt nguồn từ nhũng điều tưửng như vụn vặt, như nìột lần tặc lưõi cho qua để công việc sớm hoàn thành, một lần ngại ngần kiểm tra, xcm xét … nên hãy luôn hình thành và gìn giữ cho mình thói quen cẩn trọng từ nhũng chi tiết dù là nhỏ nhặt. Đôi khi, chính từ những tiểu tiết mà không ai chú ỷ đến ấy lại có thê gây ra những hậu quả khôn lưòng. Chì càn một chiếc ốc vít không đuọc vặn chặt trong máy móc đôi khi công có (hể gây ra những tai nạn chết người. Chì cần nham lẫn một con số trong thống kê, tính toán lìi có thể sẽ thắt thoát một số tiền không nhò. Cây lớn một ôm khời sinh rừ một cái mầm nhò, đài cao chín lang khởi đầu từ mội sụt đấl – những điều lớn lao sẽ luôn đuvc hình (hành từ những gì tuửng chừng đon giản nhất, hày luôn khắc ghi điều dó. Quan niệm của Nam Cao ià một thái độ đúng đắn, xuất phát từ ý thức trách nhiệm của một ngưừi nghệ sĩ có Iưưng tâm nghề nghiệp. Bản thăn Nam Cao cũng luôn trán trờ với cái nghiệp cầm bút cùa mình, no lục lìm tòi, sáng tạo, khát khao hoàn thiện bân thân. Bod đối với Nam Cao, cấu thả trong bất cứ nghè gì cũng là hất luong, nhưng cẩu thã trong văn chương là một sự đê tiện. B<Vi văn chuung, khác với những lĩnh vực thông thường ở chỗ nó tác động trực tiếp đcn thế giới tâm hồn của con nguời. Chúc năng, giá trị của văn chưcmg là hình thành nhân cách, bồi đắp nhân tính cho con người. Và chính nhờ vào ý thức trách nhiệm ắy mà Nam Cao đã đc lại cho đời những tác phẩm bất hủ, còn mãi với thời gian. Cuộc sống luôn đặt ra những trách nhiệm cần thực hiện cho mỗi con người. Và ý thúc đúng đắn, nghiêm túc trong nghề nghiệp cũng !à một trong những đòi hỏi ấy. Ai cũng phải làm việc, nhimg chỉ khi thực hiện công việc bằng cả tâm huyết, lòng nhiệt tình, ta méri có thể tạo ra những giá trị thực sự, Iihững đóng góp thục sự có ý nghĩa cho cuộc sống.
0
Lòng tốt là của cải

Lòng tốt là của cải

  THCS Lê Quỷ Đôn – TP. Hải Duxmg – Hái Dương ĐỀ BÀI Giờ ra chơi, một nhóm học trò tiểu học xúm nhau lại kể “cấc chuyện trên đời”: Nhà tớ bốn tầng s(/n xanh! Bô tớ mua ô tô rồi nhé! Bác tớ ở hẳn khu biệt thự! Còn ông tớ cục tốt! – Riêng Ngọc Anh trịnh trọng tuyên bố… Tự lởi nói thơ ngây của cô bé Ngọc Anh kia đã chứa đipĩg một triết lí. Đó là triết lí gì? Em có suy nghĩ gì về triết lí ấy? GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI /. Mở bài Có người cho Ihời gian là vàng bạc, có người bảo sức khoẻ thực sự đáng quý “không ôm không đau làm giàu mấy chốc ” hoặc “con cái là của để dành”… Giờ ra chơi, trò tiểu học xúm nhau lại kể “cốc chuyện trẽn đời”: Nhà tó bón tầng sơn xanh! Bố tớ mua ô tô rồi nhé! Bác tớ ở hẳn khu biệt thự! Còn ông tớ cục tốt! – Riêng Ngọc Anh trịnh trọng tuyên bố… Tự lòi nói tha ngây của cô bé Ngọc Anh kia đã chứa đựng một triét lí: Lòng tốt là của cải… Thăn bài Giải thích : Lòng tốt là gl? Nhận diện người có lỏng lốt và biểu hiện? Lòng tốt là những hành động, việc làm cao đẹp xuất phát từ tấm lòng nhăm giúp đờ người khác. Người có lòng tốt săn sàng cảm thông, chia sẻ; luôn nhường nhịn, hi sinh; không bao giờ tranh giành quyền lợi hay ghen ghét, đố kị, cũng không nghĩ xấu, nói xấu cho ai… Biểu hiện của lòng tốt: nhỏ là dắt người già qua đường, nhặt được của rơi trả người đánh mất; lớn là cứu người bị nạn, mử lòng từ bi dành cả đời mình làm việc thiện. Nói lòng tốt là của cải nghĩa là lòng tốt được so với của cải, quý giá, quan trọng và cần thiết như của cải. Khẳng định tính dứng dấn của quan niệm Đây là một quan niệm đúng vì lòng tốt đem lại giá trị vật chất và tinh thần cho cá nhân và cộng đồng xã hội. Lòng tót là của cải vật chấl nên cô gái nghèo ngày xưa được bà tiên tốt bụng giúp nói ra châu ra ngọc; ngirời em được chim phượng hoàng mang đến đảo kim cương. Ngày nay công nhân viên chức bớt một ngày hưởng lương ủng hộ quỷ “tấm lòng vàng” là thành áo mặc, cơm ăn cho đồng bào vùng thiên tai lũ lụt, thành sách vở, chicu chăn cho trẻ em nghèo… Lòng tốt là tài sản tinh thần nên khi đem tặng nguời nhận đã thật mừng mà người cho cũng thấy hân hoan. Lòng tốt tiép thêm cho COIÌ người lòng tin, hi vọng, nghị lực. Vì bao nhicu người tốt ờ trên đời sẵn lòng giúp đỡ nên những trỏ em nghèo không nản chí, nản lòng đã cố gắng phấn đấu học hành; những phạm nhân từng một thời lầm lỗi yen tâm cải đểi trên hành trình về vái nhân tâm… Bàn luận mỏ rộng Là của cải nhimg lòng tốt không mua được bằng tiền; lòng tốt cho đi mà không vơi, không mất. Vì the, lòng tốt quý hưn của cải. Lòng tốt là tài sản tinh thần vô giá. Nhung con người không phải ai cùng tót, cái ác vẫn còn tồn tại. Vì tham lam, đó kị, vì bổng lộc, quyền hành, thậm chí vì những thứ hào huyền, vô nghĩa đôi khi người ta vẫn ímg xử vói nhau thật tàn nhẫn: vu oan, trù dập, gạt lừa,… Nhận thức được điều này mỗi chúng ta cần: + Phc phán, lèn án và dấu tranh chống lại cái ác. + Quý trọng ngirời có lòng tốt + Nâng niu, nuôi dưỡng hạt mầm thirơng yêu để lòng tót nảy nở từ những việc làm nhỏ nhất… + Mặt khác không đế lòng tốt bị lợi dụng III. Kết bài: Lòng tốt là của cải nên “sống trong đời cần có một tẩm lòng” (Trịnh Công Sơn) – quan niệm đứng đắn đó luôn nhắc nhở mỗi chúng ta làm việc tốt để cuộc sống ngày càng thêm tirơi đẹp.
0
Kẻ thù của rừng xanh

Kẻ thù của rừng xanh

  THCS Lạc Duơng – Yên Thuỷ – Hoà tìình__________ ĐỀ BÀI Vào trong phòng triển lãm ở rừng quốc gia Cúc Phương (Nho Quan – Ninh Kình), bạn sẽ thấy trên lường một ô cửa bằng gỗ có gắn tấm biển ghi dòng chữ “Kẻ thù của rừng xanh ”, mỏ cánh cửa ra là một tấm gưcmg soi chính hình ảnh của mình. Em “dọc” được điều gì qua “thông điệp” trên, hãy viết lại bằng một bài văn nghị luận. GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI Đề có độ “mở” tạo cơ hội cho người viết trình bày những cảm nhận ricng của bản thân xoay quanh nạn phá rừng. Song ả đây không gò bó người viết đi theo những trình lự lập luận quen thuộc. Cần chú ý một số điểm sau: Từ lời giới thiệu hấp dẫn, có tính giáo dục cao trong phòng triển lãm ở rùng quốc gia Cúc Phương, người viết cần khẳng định: “Kẻ thù của rừng xanh” không ai khác chính là con ngirời: + Con người không hiểu biết… + Con người vô trách nhiệm… + Con nguửi hám lại… + Con nguửi coi thường pháp luật… v.v… Con nguòi (dù trục tiếp hay gián liếp) chính là kẻ thù gây tội ác cho rùng xanh. Qua lời giới thiệu và tắm guxrng phản chiếu, khiến mỗi ngưừi còn “đọc” được hao điều hệ trọng khác. Soi vào gương ta nhìn tháu suốt, ta nghe vọng về tiếng rừng xanh kêu cứu. Hiện Crạng diện tích rừng bị thu hẹp một cách báo động (dẫn chúng bàng số liệu cụ thể – so sánh sự tàn phá mỗi ngày một tăng cả ở Irong nước và trôn thế giới) Soi vào gircmg ca thấy hậu quả của thảm hoạ phá rừng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, đời sống sản xuất, sức khoẻ COIÌ người, an ninh xã hội… (bão lũ, sự nóng lên của trái đất v.v…). Soi vào guung ta ngẫm lại mình, có làin điều gì gây hại cho rìmg không? Soi vào gương (a thấy mình đáng yêu, đáng sóng lắm chứ. Vậy hà cớ gì ca lại “đào mồ” để chôn ta (chặt phá rừng – huỷ diệt lá phổi của sự sống…) Soi vào gương ta thấy trách nhiệm bảo vệ rừng không phải của riêng ai mà của tất cả chúng ta. Đề ra những giải pháp ngăn cấm nạn phá rừng… Khẳng định sống hoà hợp với thiên nhicn – là quy luật sống lành mạnh từ ngàn đòi nay. * Lun ý: Bố cục, luận điểm rõ ràng, có thể két hợp kể, tả, biểu cảm khéo léo hợp lí… Không bien bài văn thành bản báo cáo thống kê, hay bài tuyên truyền chỉ thị khô khan…
0
© 2017 Tài Liệu – Kiến Thức. All rights reserved.
Proudly designed by Theme Junkie.